Thông tin về Hội
Hội NANT Hà Nội
Hình ảnh
Địa chỉ, bản đồ
Hỏi - Đáp
Tài liệu, phần mềm
Tạp chí Nhiếp ảnh
VAPA Audio - Video
Gallery
 
 QUẢNG CÁO

 TÌM KIẾM
 DOWNLOAD TÀI LIỆU
5 file mới nhất

1. Thể lệ ASEAN 2010
2. Thông báo FIAP30
3. Bản đăng ký
4. Thông tư 2010
5. Kết quả cuộc thi ảnh của FIAP tại VN

Chuyển đến danh mục Files
 THĂM DÒ DƯ LUẬN
Bạn đang sử dụng máy ảnh của hãng nào?

Canon
Nikon
Fujifilm
Sony
Olimpus
Panasonic
Pentax
Khác



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời: 8248
Thảo luận: 149

 THÔNG TIN TRUY CẬP
Xin chào!
Bí danh
Mật khẩu
(Đăng ký)
Đăng ký:
Cuối cùng: kokonohp
Hôm nay: 0
Hôm qua: 5
Tổng cộng: 13603
Khách: 8
Thành viên: 0

Thống kê truy cập:
Hôm nay: 9,867
Hôm qua: 14,319
Lượt truy nhập:
22,520,343

» Tin tức Site được cập nhật vào: 2010-09-02 00:00:00
Giải ‘Nobel’ của Nhiếp ảnh
04/02/2010

Xem hình
Giải thưởng “Nobel” về nhiếp ảnh : The Hasselblad Foundation International Award in Photography. Giải thưởng quốc tế về nhiếp ảnh của quĩ Erna và Victor Hasselblad, hay gọi tắt là giải thưởng Hasselblad được coi là giải thưởng cao quí nhất về nhiếp ảnh trên thế giới hiện nay. Giải thưởng này được trao tặng mỗi năm, bắt đầu từ năm 1980 (trừ năm 1983-năm mất của Erna Hasselblad) cho các nhà nhiếp ảnh đạt được những “thành tựu quan trọng”.

Giải thưởng được công bố hàng năm vào dịp ngày sinh của Victor Hasselblad (8/3) và được trao vào dịp tháng 10 hay tháng 11.


Danh sách những người đoạt giải cho đến nay (cùng một giới thiệu ngắn về tác giả) :1980:


Lennart Nilsson, Stockholm, Sweden


Lennart Nilsson là một trong những phóng viên ảnh xuất sắc của Thụy Điển trong một thời gian dài trước khi dành được sự nổi tiếng như là một nhiếp ảnh gia khoa học. Tác phẩm của ông chuyên về các nghiên cứu chi tiết cơ bản : tự nhiên và cơ thể con người. Để mở rộng tầm mắt của con người vào phía bên trong cơ thể, Lennart Nilsson làm việc với các dụng cụ phóng đại mạnh như các loại kính hiển vi dạng quét electron và các máy nội soi cực mỏng được thiết kế đặc biệt. Ông đã miêu tả được một cơ thể người mới hình thành phát triển như thế nào, cũng như một số những kẻ thù đáng sợ nhất của chúng ta như tế bào ung thư và vi rút bệnh tả. Tác phẩm của ông cho thấy một sự kết hợp tuyệt vời của một tài năng nghệ thuật, sự hiểu biết về sinh học và sự thành thạo kĩ thuật.





1982: Henri Cartier-Bresson, Paris, France



Henri Cartier-Bresson đã có một ảnh hưởng lớn trong nhiếp ảnh tư liệu sáng tạo trong nửa thế kỉ. Nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh đã chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm của ông. Ông là một bậc thầy không thể tranh cãi với một số lượng tác phẩm đồ sộ. Ông là nhà nhiếp ảnh đầu tiên đã làm chủ được nghệ thuật ghi lại hiện thực trong dòng chảy liên tục của nó, và đẽo gọt sự nhẩt thời thành những bố cục nhiếp ảnh chi tiết và chặt chẽ. Với Cartier-Bresson, nhiếp ảnh là một cách kể các câu chuyện về cuộc sống. Ông nhìn một bức ảnh như một tư liệu, nhiếp ảnh như một nghệ thuật tư liệu. Năm 1947 Cartier-Bresson, Robert Capa, David Seymour và một số người khác dựng lên hãng ảnh nổi tiếng Magnum.





1983: Không trao giải.


1984: Manuel Alvarez Bravo, Mexico City, Mexico



Manuel Alvarez Bravo đã từ lâu được đánh giá là một trong những người làm mới nhiếp ảnh đương đại. Các tác phẩm của ông chủ yếu được biết đến bởi tính hình tượng, trữ tình của chúng, bắt rễ từ lịch sử Mê-hi-cô và những truyền thống văn hóa. Ông đã làm cho thế giới biết đến văn hóa Mê-hi-cô một cách đầy sinh động. Ảnh đặc trưng của Alvarez Bravo là trực tiếp và không bị thao tác. Ông đã thành công nhờ vào sự trung thành với những yếu tố của ánh sáng, tông màu và bố cục. Cùng một lúc, các tác phẩm của ông có tính hình tượng mạnh mẽ. Điều đó khiến cho Alvarez Bravo trở thành một khuôn mặt đầu đàn cho nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh Mỹ La tinh.



1985: Irving Penn, New York City, New York, USA



Irving Penn từ lâu đã được biết đến là một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu thế giới của nhiếp ảnh xuất bản, quảng cáo và thời trang. Kể từ khi các bức ảnh của ông bắt đầu xuất hiện đều đặn trên tạp chí Vogue những năm 1940, các tác phẩm của ông có đặc trưng riêng bởi sự lịch lãm về kĩ thuật, sự đòi hỏi về tiêu chuẩn của phong cách và sự nhạy cảm với chất lượng của ánh sáng. Irving Penn là một trong số rất ít những nhà nhiếp ảnh sở hữu khả năng sáng tạo những bức ảnh vừa mang tính nghệ thuật bậc thầy vừa mang tính thương mại.






1986: Ernst Haas, New York City, New York, USA



(Ernst Haas qua đời một tháng trước khi lễ trao giải được cử hành)


Ernst Haas là một trong những tên tuổi đương đại hàng đầu trong nhiếp ảnh mầu.Đóng góp của ông cho nhiếp ảnh đen trắng trong một thời gian dài đã bị đánh giá thấp nhưng về sau đã được ưa chuộng. Ernst Haas đã rất cẩn thận gìn giữ sự tự do của mình trong chọn lựa bằng cách không cho phép bản thân bị ràng buộc bởi bất cứ tờ báo nào. Ông chọn lựa cách đi của chính mình và làm việc theo nhịp của mình cho đến khi chất liệu hình ảnh đạt được tiêu chuẩn mà ông đòi hỏi ở chính mình. Ernst Haas đã trình bày có hệ thống những trải nghiệm thị giác với chiếc máy ảnh và kỹ thuật nhiếp ảnh bằng một cách mới mẻ, sáng tạo và đặc biệt cá nhân.






1987: Hiroshi Hamaya, Tokyo, Japan



Hiroshi Hamaya là một trong những nhà nhiếp ảnh tư liệu xuất sắc nhất của Nhật Bản hiện tại. Các chủ đề của ông là con người và thiên nhiên. Tuy nhiên mối quan tâm của ông với thiên nhiên không giới hạn ở đồng quê Nhật Bản mà thiên nhiên chưa bị tàn phá trên toàn thế giới. Một phần trong việc ghi lại thiên nhiên, Hamaya cũng đã lưu lại cuộc sống con người trong nhiều biến thể của nó. Cho dù ông chủ định trong những bức ảnh của mình là sự ghi lại mang tính khoa học.





1988: Edouard Boubat, Paris, France



Edouard Boubat đã được biết đến từ những năm 1940 qua những bức ảnh của ông. Ông là một người thuộc trường phái nhân đạo và là một người sáng tạo hình ảnh duy nhất mà chúng ta không thể xếp loại. Boubat là mượn người muốn kể chuyện con người lên phim ảnh, những thái độ của họ và cuộc sống thường nhật của họ. Ông lột tả con người và các khung cảnh với sự ấm áp và những bức ảnh của ông nói về tình yêu, niềm vui và sự kiêu hãnh của con người. Bức ảnh nổi tiếng đầu tiên của Boubat là bức ảnh một cháu bé Pháp nhỏ bé quấn quanh mình những chiếc lá úa. Bức ảnh đó được chụp năm 1946 khi ông 23 tuổi và nó đã ghi lại được không khí nước Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.




1989: Sebastião Salgado, Paris, France



Sebastião Salgado là một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu và được biết đến rộng rãi trong số các nhà nhiếp ảnh báo chí về phóng sự xã hội lao động đương thời. Ông đã chứng tỏ một khả năng duy nhất trong việc kết nối tính báo chí, sự thâm nhập kín đáo, sự dấn thân trung kiên và  thẩm mỹ nhiếp ảnh. Ông sử dụng phương tiện của mình để kể về những cuộc sống con người, mà ông quan sát với sự tôn trọng nhưng khắc nghiệt những bối cảnh của chúng. Những bức ảnh của ông rất cảm động và quan trọng để giúp ta hiểu về con người và văn hóa. Tác phẩm của ông cũng là khởi nguồn cho các dự án như “Bác sĩ không biên giới”.







1990: William Klein, Paris, France



William Klein thuộc về số những người đổi mới của nhiếp ảnh hiện đại. Những miêu tả chủ quan của ông về cuộc sống đường phố và thế giới thời trang trần tục được đặc trưng bởi tính tư liệu và tính khắt khe về hình dạng, một “nghệ thuật thô” (’art brut’) hậu chiến.






1991: Richard Avedon, New York City, New York, USA




Trong hơn 40 năm, Richard Avedon luôn là một gương mặt trụ cột của nghệ thuật nhiếp ảnh hiện đại. Đặc biệt, các tác phẩm của ông trên các tạp chí Harper’s Bazaar và Vogue đã đóng góp cho “một cái nhìn mới” trong nhiếp ảnh thời trang và đồ họa. Nhiếp ảnh quảng cáo của ông gây kinh ngạc bởi sự tinh tế thị giác của nó và trên cương vị là một nhà nhiếp ảnh chân dung, Richard Avedon nằm trong những nhà nhiếp ảnh xuất sắc nhất của thời hiện đại.









1992: Josef Koudelka, Prague, Czech Republic



Josef Koudelka là một trong những nhiếp ảnh gia lớn nhất của thời đại chúng ta. Qua những năm tháng vòng quanh thế giới của mình, ông đã miêu tả những hoàn cảnh con người ở nhiều đất nước trong các bức ảnh của ông, chẳng hạn cuộc sống thường nhật của những người Di Gan, các lễ hội và di sản văn hóa của họ. Những bộ ảnh của ông được đặc trưng bởi hình dạng nghiêm ngặt và một cái nhìn nên thơ. Chúng cũng diễn tả một sự dấn thân nhân văn mạnh mẽ và một chủ nghĩa hiện thực xã hội-tư liệu.



 





1993: Sune Jonsson, Umeå, Sweden


Qua gần nửa thế kỉ, Sune Jonsson đã lột tả sự cô độc và vẻ đẹp khô cằn của phong cảnh miền Bắc Thụy Điển và cuộc sống lao động vất vả hàng ngày của những con người đơn giản. Những hình ảnh lặng lẽ nhưng sống động, không gây phiền đã đem lại cho chúng ta một tổng quan về một xã hội đang chuyển mình. Trong nhiều cuốn sách, qua nhiều năm, ông đã dệt bằng ngôn từ và hình ảnh để cho ta một tư liệu duy nhất trong tư tưởng của dự án Farm Security Administration tại Mỹ.





1994: Susan Meiselas, New York City, New York, USA



Susan Meiselas, một trong những nhà nhiếp ảnh dẫn đầu trong truyền thống nhân đạo-tư liệu, đã miêu tả những con người trong sự đấu tranh của họ cho sự công bằng xã hội và nhân phẩm, như ta có thể thấy trong các tác phẩm mạnh mẽ của bà từ những cuộc cách mạng Nicaragua và El Salvador, những tác phẩm đã phản ánh sự dấn thân sâu sắc.Trong các bức ảnh của Susan Meiselas có một sự căng thẳng giữa hình dạng và nội dung xã hội.





1995: Robert Häusser, Mannheim, Germany


Robert Häusser là một trong những nghệ sĩ hình ảnh hiện nay của nhiếp ảnh Đức. Tác phẩm của ông có thể được miêu tả như một sự mở rộng và phát triển của “nhiếp ảnh chủ quan” (”subjective photography”), thể loại đã được tung ra và chiếm được sự khen ngợi đáng kể tại châu Âu trong những năm hậu chiến. Những nghiên cứu tạo hình hàm súc của ông về phong cảnh và kiến trúc kết hợp giữa một sự giản lược tinh tế của những điểm chính các chủ đề của ông cùng với một tông lặng lẽ đáng lo ngại. Tác phẩm của Häusser gợi mở sự tương tác khó hiểu giữa bề mặt và chiều sau.



1996: Robert Frank, New York City, New York, USA


Robert Frank là một trong những nghệ sĩ thị giác hàng đầu thế giới hiện nay. Ông đã góp phần vào sự làm mới lại trong cả lĩnh vực nhiếp ảnh phóng sự và nhiếp ảnh nghệ thuật cũng như trong “nghệ thuật phim Mỹ độc lập”. Với xuất phát điểm là chủ nghĩa hiện thực khách quan của nghệ thuật những năm 1930, Frank đã tiếp tục theo đuổi sự tìm tòi riêng biệt của mình về lẽ phải, bằng bất kỳ phương tiện sáng tác nào, với một sự miệt mài và quyết tâm. Những hình ảnh của ông đã có một ảnh hưởng quyết định đối với nhiều thế hệ nhà nhiếp ảnh, họa sĩ, nhà làm phim, nhà phê bình và nhà văn.


   



1997: Christer Strömholm, Stockholm, Sweden



Từ những năm 1950 Christer Strömholm đã là một trong những nhà nhiếp ảnh Scandinavia đầu đàn và là nhà nhiếp ảnh hậu chiến đầu tiên giành được tiếng tăm quốc tế. Ngay từ những năm 1950 ông đã trở thành thành viên của nhóm nhiếp ảnh Đức Fotoform, và khi sống ở Paris vào cuối thập kỉ đó, ông đã phát triển một ngôn ngữ nhiếp ảnh tương tự như chủ nghĩa hiện sinh. Những bức ảnh của Strömholm đã làm nên đóng góp to lớn trong việc xây dựng nhiếp ảnh như một nghệ thuật độc lập tại châu Âu. Ngoài ra, bằng khả năng sư phạm huyền thoại của một nhà giáo nhiếp ảnh, ông đã gây ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh Scandinavia.


  





1998: William Eggleston, Memphis, Tennessee, USA


William Eggleston là một trong những nhà tiên phong quan trọng trong lĩnh vực ảnh màu từ những năm 1970. Với nhãn quan độc đáo của mình về thế giới thực tại, đặc biệt là của vùng phía Nam nưóc Mỹ, ông đã phát triển ảnh màu như một chất liệu tạo hình độc lập. Ông cũng đi tới việc sử dụng đến tận cùng khả năng của màu sắc, nhìn nó như một đặc tính cơ bản của nhận thức. Với Eggleston, màu sắc đã trở thành một khía cạnh sống còn của việc ghi lại cuộc sống thường nhật và những cái xung quanh nó. Ông đã đưa vào nhiếp ảnh một quan niệm thẩm mỹ mới, một con đường “dân chủ” mới trong cách nhìn- bị ảnh hưởng nhiều bởi cách nhìn cá nhân hơn là những kiểu mẫu về phong cách trước đây. Cũng giống việc Robert Frank đã lập nên một thẩm mĩ không chính thống nổi trội trong những năm 1950, trong những năm 1970 William Eggleston đã biến đổi khả năng của những điều có thể diễn tả bằng màu sắc.





1999: Cindy Sherman, New York City, New York, USA


Cindy Sherman thiết lập một định hướng mới cho nhiếp ảnh đương đại trong những năm 1970. Bằng việc sử dụng nhiếp ảnh dàn dựng của mình, và với sự bố chí chính mình như nhân vật trung tâm trong một tập hợp phức tạp những kịch bản, Cindy Sherman đã khám phá và thử thách những định kiến xã hội, phê bình và văn hóa. Nhiều trong số các tác phẩm của bà liên quan đến vị trí của phụ nữ trong một xã hội tiêu dùng và bị kéo bởi các phương tiện truyền thông, và đến sự châm biếm, phi lí trong cuộc sống của phu nữ đương đại. Bà cũng có thể được nhìn như là một người “phát minh lại” của hai truyền thống nhiếp ảnh quan trọng: siêu thực nhiếp ảnh của những năm 1930 và nghệ thuật ý niệm dựa trên nhiếp ảnh của những năm 1960. Ảnh hưởng của Cindy Sherman đối với những thế hệ các nghệ sĩ và nhà nhiếp ảnh đã và còn tiếp tục vô cùng to lớn.





2000: Boris Mikhailov, Charkov, Ukraina


Boris Mikhailov là một nhà nhiếp ảnh đầu đàn không thể bàn cãi với một “Soviet background” hiện nay. Trong những năm gần đây, những cuộc triển lãm và những cuốn sách của ông đã thu hút sự quan tâm to lớn trên thế giới. Vào thời điểm hiện tại sau sự nghiệp hơn ba mươi, Boris Mikhailov tiếp tục phát triển chủ đề lớn của mình: những câu chuyện của ông về sự sụp đổ của Xô Viết không tưởng. Boris Mikhailov có một lập trường phê phán; tác phẩm của ông luôn mang tính nhân văn trong tiếp cận, với những yếu tố cảm xúc mạnh mẽ và một sự hài hước khiến cho khán giả tại phía Đông và phía Tây đều cảm thấy xúc động. Cho dù làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, ông luôn thành công trong việc tạo ra một nghệ thuật nhiếp ảnh say mê và dấn thân sâu sắc.



2001: Hiroshi Sugimoto, Tokyo, Japan



Hiroshi Sugimoto là một trong những nhà nhiếp ảnh được nể trọng nhất của thời nay Trong những chủ đề nhiếp ảnh chính của ông : những mối tương tác giữa Nghệ Thuật, Lịch Sử, Khoa Học và Tôn Giáo, Sugimoto kết hợp những ý tưởng trầm tư của phương Đông với những mô típ văn hóa phương Tây. Qua 25 năm Sugimoto đã có được những khán giả trên toàn thế giới bởi những bộ ảnh đen trắng đặc trưng và được xây dựng rất công phu của ông. Lấy cảm hứng từ hội họa Phục Hưng và nhiếp ảnh của thế kỉ 19, và sử dụng máy ảnh khổ lớn, , Sugimoto đạt được một giải tông rộng trong một cơ thể tác phẩm phản ánh sự yêu thích lớn của ông về chi tiết, sự làm chủ kĩ thuật tuyệt vời và là sự kinh ngạc của ông trước những nghịch lý của thời gian.






2002: Jeff Wall, Vancouver, Canada


Trong vòng hơn 20 năm, Jeff Wall đã phát triển một khối lượng tác phẩm đồ sộ, sử dụng nhiếp ảnh một cách vô cùng sáng tạo đã đem đến cho nhiếp ảnh một vị trí lớn trong nghệ thuật đương đại. Với những hình ảnh được dàn dựng công phu, đôi khi với sự can thiệp của kĩ thuật số, được đặt trong những hộp sáng lấy cảm hứng từ những tác phẩm quảng cáp, ông đã khám phá một dải lớn các chủ đề xã hội và chính trị, ví dụ như bạo lực đô thị, phân biệt chủng tộc, đói nghèo, xung đột giới tính và giai cấp, lịch sử, kí ức, sự biểu diễn, và nhiều thứ khác. Những bức ảnh của ông, bằng màu hay đen trắng, luôn giữ được một sự đối thoại với hội họa thế kỉ 19.





2003: Malick Sidibé, Bamako, Mali



Malick Sidibé đã ghi lại một thời kì quan trọng của lịch sử Tây Phi với sự dấn thấn, tình cảm, sự hăng say. Trong những tác phẩm chân dung tư liệu, ông đã lưu lại được không khí và sức sống của một thủ đô châu Phi trong một thời kì chuyển mình lớn. Ngay từ thời gian đầu của thời kì hậu thuộc địa, ông đã trở thành một một nhân chứng đặc biệt của một thời kì trao đổi văn hóa thăng hoa và mạnh mẽ. Từ khi còn trẻ nhưng đã có một danh tiếng, Malick Sidibé đã ghi lại một thời điểm của sự chuyển dịch, sự vô tư trẻ trung, hiếu kì về phần còn lại của thế giới, lòng kiêu hãnh và niềm tin vào tương lai. Tác phẩm của Malick Sidibé, chủ yếu dành cho tuổi trẻ Mali những năm 1950 và 60, là một ký ức và bằng chứng duy nhất. Những bức ảnh ấy, đầu tiên nhằm tới khán giả châu Phi, ngày nay được ưa chuộng khắp nơi trên thế giới.





2004: Bernd và Hilla Becher, Düsseldorf, Germany


Bernd và Hilla Becher nằm trond những nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn nhất của thời đại chúng ta. Qua hơn bốn mươi năm, họ đã ghi lại di sản của một quá khứ công nghiệp. Với một thứ nhiếp ảnh mang tính của kiến trúc vận hành, thường tổ chức những bức ảnh theo các bảng kẻ ô vuông, họ đã  được ghi nhận như là những nghệ sĩ ý niệm cũng như là những nhà nhiếp ảnh. Với cương vị là những người sáng lập ra cái được biết đến dưới cái tên “trường phái Becher” họ đã đem lại một ảnh hưởng quan trọng cho những thế hệ nhà nhiếp ảnh tư liệu hay các nghệ sĩ.



2005: Lee Friedlander, New City, New York, USA



Lee Friedlander là một trong những nhà nhiếp ảnh đương đại đáng kể nhất, sáng tạo nhất và ảnh hưởng nhất, với một thành tựu trọn đời trải rộng qua năm mươi năm qua. Sự phân biệt tác phẩm của Friedlander trước hết không phải là kĩ thuật của ông mà là ở nhãn quan và quan niệm thẩm mĩ mà ông thể hiện. Bằng cách ghi lại những hiện tượng của cuộc sống hằng ngày và bởi một sự quan sát mang chất phê bình xã hội bao quanh ông, Friedlander đã trở thành tâm điểm trong việc định nghĩa một thể loại riêng biệt dựa trên quan niệm về “phong cảnh xã hội” (“social landscape”). Tác phẩm của ông chứa đựng một “mấu mực tư liệu mới” mà ở đó những sáng tạo về phong cách và sự tự do thoát khỏi những phương pháp chính thống được tạo dựng từ trước đã gây ảnh hưởng tới các tác phẩm của những thế hế nhà nhiếp ảnh về sau.







2006: David Goldblatt, Johannesburg, South Africa


Tác phẩm của David Goldblatt là một quan sát dài lâu về sự phát triển xã hội và chính trị trong lòng xã hội Nam Phi. Ông đã quan tâm đến việc khám phá mối quan hệ giữa những cá thể con người và hệ thống kiến trúc mà họ sống bên trong đó. Mối quan tâm của ông về lịch sử đầy bạo lực của đẩt nước ông và mối lo ngại về ý nghĩa tượng trưng của kiến trúc tạo thành một phát biểu tuyệt vời vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội-chính trị. Nhiếp ảnh, theo ngôn từ của David Goldblatt, làm hiện lên “cái gì đó tinh tế và khó hiểu của sự dịch chuyển trong chúng ta và những nhận thức thường xuyên phí lí của hiện thực.” Lí do vì sao Goldblatt được chọn trao giải thưởng Hasselblad đó là bởi vì những bức ảnh của ông rất tinh tường trong nhận thức lịch sử và chính trị. Chúng đem lại một bức thảm của cuộc sống thường nhật và một chi tiết quan trọng của thông tin bị thiếu : thông tin liên quan đến cuộc sống dưới chế độ A-pác-thai tại Nam Phi.

VAPA (Theo TIMNHANH.COM)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những thông tin khác:




 

   Trang tin điện tử của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam.
   Tòa soạn: 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội; ĐT: (04)944.6334; e-mail: nsnavn@gmail.com
   Copyright © 2002 Vietnam Association Of Photographic Artists. All rights reserved.
   Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet v1.0, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.